ĐẤT HÀ TIÊN
VỚI HỌ MẠC VÀ HỌ LÂM
Nguyễn Hiến Lê
Đất Hà Tiên
Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu
long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu
long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành
đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không
nhớ rơ là năm một ngàn chín trăm ba mươi
mấy, người ta đào được những
đồng tiền vàng La Mă ở Óc eo (gần chân núi Ba
thê), vậy th́ vào khoảng đầu công nguyên, biển vô
tới Óc eo hoặc cách Óc eo không bao xa, chỉ vài ba cây
số. Hồi đó các núi ở Hà tiên, Ba ḥn, Ḥn trẹm
chắc c̣n nằm ngoài biển, không biết từ thế
kỷ thứ mấy, miền ấy mới
được bồi xong. Ngày nay ai đi qua Ba ḥn, c̣n
thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch giá
– Hà tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt
đất khoảng một thước. Vậy th́ vùng
bờ biển đó chắc cũng đă được
dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù
sa bồi.
Dăy núi từ Hà tiên tới Ḥn trẹm ấy hiện nay
nằm sát hoặc gần bờ biển, nh́n ra các ḥn ngoài
khơi: ḥn Phụ tử, ḥn Heo, ḥn Ngang, ḥn Một, ḥn Phú
Quốc… và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát
(xụa là rừng, nay vẫn c̣n đất phèn), xa xa vài
chục cây số mới có dăy núi Thất sơn. Như
vậy là Hà tiên là một miền hẻo lánh nơi chân
trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con
đường trải đá Rạch giá – Hà tiên th́ thị
trấn ấy gần như cô lập với các miền
chung quanh: muốn xuống Rạch giá phải dùng
đường biển, mất nữa ngày, mà muốn vô
Châu đốc th́ phải đi ṿng lên biên giới,
mượn một con đường trên phần
đất Cao miên.
Nó đă cô lập mà lại ḱ đặc, không giống
một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn
Văn học Hà tiên (1) đă tả nó như sau:
“Ở đó (Hà tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu
đủ hết.
Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng
sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa
biển của Hạ long. Có một ít núi vôi ở Ninh b́nh,
có một ít thạch thất sơn môn của Hương
tích. Có một ít Tây hồ, một ít Hương giang. Có
một ít chùa chiền của Bắc ninh, lăng tẩm
của Thuận hóa. Có một ít Đồ sơn, Cửa
tùng, có một ít Nha trang, Long hải.
Ở đây không có cảnh nào to lớn đầy
đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà
cảnh nào cũng có”.
Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt
lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng,
muốn nghênh ngang một cơi.
* * *
Họ Mạc
Kẻ đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ
XVII.
Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương
Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận
chủ quyền Măn Thanh, bỏ quê hương mà dắt
bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng
Dương và Trần ghé vào Quảng nam (1679) qui phục
chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm
đất Đồng nai và Mĩ tho để tự kinh
lí lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh
vượng là Cù lao Phố (Biên ḥa); c̣n Mạc th́ tiến
xa hơn, tới địa phận Chân lạp (cũng
gọi là Giản phố trại) – tức Cao miên, tức
Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Ḥa trong Hà tiên
Mạc thị thế hệ khảo – Hoa Cương
học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan
lớn Chân lạp, năm 1700 xin vua Chân lạp ra khai
khẩn miền Banteay Meas, tức Mang khảm, mới
đầu mở ṣng bạc, sau qui tụ các người
Hoa, Việt, Miên, lập ấp, mở khẩu, thành lập
một tiểu quốc, nhưng thường bị
giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự
bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mạng khảm
từ đó đổi tên là Hà tiên, thành một cửa ngơ
Chân lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng
hầu hết các sản phẩm Chân lạp (*).
Nếu chỉ là một hải khẩu th́ dù ghe tàu tấp
nập, cũng chưa có ǵ đặc biệt. Điều
đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu
quốc đó chỉ trong nửa thế kỉ đă thành
“một văn hiến quốc” ở giữa một
miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa
cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải
ngạc nhiên.
Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc
Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà
tiên năm 1735, th́ ngay năm sau, 1936, thành lập Chiêu Anh các,
một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ
Khổng Tử. Ông cha Trung hoa, mẹ Việt (3), rất
đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân,
đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất
trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách
chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam
thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là
người Việt, c̣n th́ là Trung hoa, người Minh
hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc
từ Gia định tới, hoặc từ Quảng
đông, Phúc kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái (**).
Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được
sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ.
Ba tập truyện này đă lạc, c̣n ba tập thơ th́
có lẽ là:
- Tập Hà tiên thập vịnh gồm 320 bài, (4) toàn
bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích thủ
xướng, c̣n các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các
họa.
- Tập Hà tiên thập cảnh khúc vịnh bằng
thơ môm của Mạc Thiên Tích.
- Tập Minh Bột di ngư thi thảo gồm
những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.
Hai tập trên c̣n được trọn vẹn, tập
cuối chỉ c̣n sót vài bài.
Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay
từ thời đó, và Lê Qúi Đôn trong tập “Phủ
biên tạp lục (1776) đoạn chép về họ
Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: Không thể bào
ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”,
rồi trong Kiến văn tiểu lục lại khen:
“văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất
là những bài thơ cả chữ Hán lẫn chữ Nôm
của Mạc Thiên Tích.
Ngay những người ngoại quốc cũng nhận
Hà tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ trong ḍng
Franciscan bảo:
“Trong xứ (Hà tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà
từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng
thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên
ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học
được. Những người Trung hoa sang đây mà
có khả năng văn học th́ mới được
mời đến đó dạy học” (5).
C̣n sách Văn hiến thông thảo đời Thanh vào
năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà tiên) trong văn
học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện
nhỏ” (6).
Trong khi đó đừng nói chi Gia định, ngay cả
ở Thuận hóa cũng chẳng có một thi đàn nào
cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề
xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử
tưởng tượng một nhóm người di cư
qua một nước tuy là đồng văn nhưng
vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi
hẻo lánh nhất, mà chỉ nữa thế kỉ sau, làm
cho nơi đó thành một đất văn vật
nhất trong cơi, góp công vào văn học xứ đó
bằng chữ của ḿnh và bằng cả thổ ngữ,
th́ có lạ không chứ!
Tiếc thay nền văn học Hà tiên bừng lên rực
rỡ được có 31 năm; đến năm 1771, Hà
tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy
về Gia định. Chiêu Anh các tan ră, sách vở bị tiêu
hủy; năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn,
qua Xiêm, và hai năm sau, 1780, ông tuẩn tiết ở kinh
đô Xiêm; từ đó Hà tiên cũng cùng họ Mạc mà suy
tàn.
--------------------------
(1) Qúnh Lâm xuất bản – 1970
(2) Chính tên là Tông, tự Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ
bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-38)
tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim,
thành chữ Tích cũng có nghĩa là cho.
(3) Theo Đông Hồ (Văn học Hà tiên – tr. 142),
“căn cứ trên bia mộ dựng ở núi B́nh sao (Hà tiên),
hiện vẫn c̣n, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ,
đề Thái phu nhân là họ Nguyễn, th́ chúng ta có thể
quyết được mẹ Thiên Tích là người
Việt. Bởi người Tàu ít có người họ
Nguyễn”.
Theo Gia định thành thông chí (quyển II), ông Hàn
Nguyên dẫn trong bài “Hà tiên, ch́a khóa Nam tiến của dân
tộc Việt Nam xuống đồng bằng sông Cửu
Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970, tr.
265, th́ mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên là
Bùi thị Lẫm, gốc ở Đồng môn, thuộc
Biên ḥa.
Cũng trong bài ấy, ông Hàn Nguyên c̣n dẫn lời của
Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai.
Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong
Thông chí. Dù theo thuyết nào th́ mẹ của Thiên Tích cũng
là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi
thơ nôm được.
(4) Có 320 bài th́ ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm
32 thi sĩ thôi (mỗi nhà làm 10 bài), kể cả Thiên Tích.
Con số 36 cũng như con số 12, 72… không đáng tin
lắm.
(5) Hăn Nguyên – Bài đă dẫn. Tập san Sử
Địa 19-20, tr. 270.
(6) Theo Gaspardone – Hăn Nguyên trong bài kể trên. Hàn lâm viện
đó là Chiêu Anh các.
(*) Trong bài Cộng đồng người Khmer Nam Bộ,
TS Nguyễn Văn Huy cho rằng Mạc Cửu chọn
thủ phủ, lúc c̣n theo Chân lạp, là Mán Khảm sau
đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo), và
vùng đất do Mạc Cửu khai khẩn gọi là
Căn Khẩu quốc. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm
thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong
chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.
Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất
đai và được phong làm đô đốc cai trị
lănh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ
dinh. Mặc Cửu mất năm 1735, con là Mạc Sĩ
Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ kế nghiệp,
Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên.
(**) Tác giả N.T.D.M trong bài Chiêu Anh Các, Tạp chí Chiêu
Anh Các số 2 (được đăng lại trên website
Mạng Giáo dục) ghi nhận “thành phần nhân sự”
như sau: “Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài
Đức ghi kỹ hơn: Văn nhân tỉnh Phúc Kiến
15 người, Quảng Đông 13 người, Phủ
Triệu Phong (Việt Nam) 4 người, phủ Gia
Định 2 người, phủ Qui Nhơn 2 người.
Cộng là 36 vị”.
Họ Lâm
Trong một trăm rưởi năm, Hà tiên thiêm thiếp
ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ c̣n là một
thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhắc
nhở tới. Tới khoảng 1926-28 nó mới lại
được nhắc nhở, v́ là quê hương của
Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới
cầm bút mà đă nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh
Phượng (tức Trác Chi lệ kí tập – Trác Chi là
tên tự của ông (*), Đông Hồ là tên hiệu), và bài
Phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học
xá, trường đầu tiên trong nước chuyên
dạy tiếng Việt.
Ngày nay tên Đông Hồ đă quá quen thuộc, phải lùi
lại thời đó, trên bốn chục năm
trước – mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực
rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một
tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn
được coi là trí thức cũng phải đọc
Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có
người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu
hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà
gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại
ở Hà tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi,
chẳng có bằng cấp, thành tích ǵ cả mà chen chân
được vào cái “hội” đó th́ quả là phi
thường. Chẳng những chen chân lại c̣n sắp
vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ
loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du
kí. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như
một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân
học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang
trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn
giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam
thời đó.
Sở trường ấy của ông, khoảng mươi
năm nay một số người chê là sở
đoản. Trong văn chương cũng như trong
mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường
thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có
người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam
nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền
Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa
rồi, nghĩa là trào lưu văn học b́nh dân, giữ
màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng
hạn như nhà văn Hồ Biểu Chánh.
Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng
tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới
rồi trong cuốn Văn học Hà tiên, ông gián
tiếp trả lời như sau:
“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam
xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta
thấy có một lối viết lỏng lẻo, hời
hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế
nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc (…)
Măi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-18,
nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong trào sách báo
ở Hà nội truyền được vào Nam, t́nh
trạng bế tắc này mới thay đổi. Bắt
đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934) rồi
đến Phong Hóa, Ngày nay ở Hà nội (1932-40) báo Tiếng
Dân ở Huế (1927) (…)
Và từ 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn
giả từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở
Sàig̣n, như những Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan
Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn
v.v… Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỳ
này (…)
Từ đó văn học miền Nam dần dần
khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính
cách đặc thù địa phương mà ḥa đồng,
thống nhất với văn hóa dân tộc hai miền
Trung Bắc”.
Vậy th́ chủ trương của ông thật rơ rệt:
phụng sự văn học dân tộc chứ không
phải văn học địa phương, để
thống nhất ba miền.
Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ
hồi nào tôi không rơ, nhưng chắc là sớm lắm –
nhờ ông sinh ở Hà tiên trong một gia đ́nh Nho học.
Hà tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu
ảnh hưởng đậm của những lưu dân
Trung hoa. Sách Văn hiến thông thảo (do Hăn Nguyên
trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà tiên
thời Mạc Thiên Tích:
“Nhà cửa không khác Trung quốc, từ nhà vương
(Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng
gạch lợp ngói. Trong cách ăn mặc, họ bắt
chước triều đại trước (nhà Minh),
Vương bới tóc lưới, đội khăn hay
mũ bằng nhiễu, ḿnh mặc áo thêu rồng, đai
bằng sừng, mang hia. Ngày thường họ dùng
đủ màu (…) Gặp th́ họ chấp tay chào nhau.”
Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kĩ,
Hà tiên c̣n giữ được ít nhiều màu sắc Trung
Hoa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ,
giao tế; c̣n miền Đông, từ Vĩnh long trở ra
Biên ḥa, Bà rịa, chịu ảnh hưởng của
những lớp Nam tiến cuồn cuộn từ miền
Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát,
tự nhiên, ưa thứ văn chương b́nh dân hơn.
Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc
Kiến (Hoa Nam) có lẽ cũng qua Việt nam với
họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan kí lục
họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ
Hữu Lân, bá phụ của Đồng Hồ nổi
tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời Đông
Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo
trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà
tiên, không được đọc ǵ khác ngoài văn thơ
Hán Nôm. V́ vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các
nhà Nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng
thời với ông ở miền Đông, chẳng hạn Hồ
Biểu Chánh. V́ vậy mà hai mươi mốt tuổi ông
đă làm được bài Phú Đông Hồ, khiến
các nhà Nho phải phục. V́ vậy mà ông được
nhận ngay vào phái Nam Phong, và suốt đời có nếp
sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà
văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi
thay đổi, mới hơn nhiều nhà trong nhóm Nam Phong,
mà rán ḥa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút
pháp th́ hồi ba mươi tuổi đă định
rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ
đầu tiên trong Nam bắt cầu Nam Bắc, mở
đường cho sự “thống nhất văn học dân
tộc” như ông nói.
Đó là mục đích thứ nhất trong đời ông.
(**)
----------------
Chú thích của Goldfish:
(*) Theo ghi nhận trong bài Đông Hồ (không rơ tác
giả, www.nguyenkynam.com) th́: “Họ Lâm, nhũ
danh là Kỳ Phác (bộ ngọc), hộ tịch chép là
Tấn Phác (Biện Hoà Tấn Phác), ông bác đặc
tiểu tự là Quốc Tỉ (Truyền quốc ngọc tỉ)
sau đổi là Trác Chi (Hữu phác ngọc, nghi sử
ngọc nhân điêu trác chi)”. Theo Tự điển Hán
Việt Thiều Chửu: Phát 璞 là ngọc
trong đá và Trác 琢 là sửa ngọc,
mài giũa ngọc. Cụ Nguyễn Hiến Lê, trong thư
gửi cho Quách Tấn, có nhắc đến một
biệt hiệu nữa là Đại Ẩn Am (theo Hồi
kư Quách Tấn).
Nhân đây tôi mạn phép nêu lên chi tiết sau: Trong bài Hồn
Đại Việt, giọng Hàn Thuyên, cụ NHL có
nhắc đến dấu son “Lâm Đông Thủy Cổ
Nguyệt”, nhưng trong Hồi kí Nguyễn Hiến Lê,
tác giả lại viết “(…) đóng dấu son “Đông
Thủy cổ nguyệt” (tức Đông Hồ: chữ
Hồ gồm 3 chữ thủy, cổ và nguyệt)”; không có
chữ Lâm? Trong bài Đông Hồ nêu trên ghi nhận,
ngoài 2 biệt hiệu Đông Hồ và Đại Ẩn Am,
ông Đông Hồ c̣n có biệt hiệu “Thủy Cổ
Nguyệt (chiết tự chữ hồ)”; tức là không có
chữ Lâm Đông!
(**) Trong thư gửi cho Quách Tấn, ngày 25/1/1983, cụ NHL
viết: “Đông Hồ có hai công lớn: Phụng sự Việt
Ngữ, thúc đẩy người ta trau dồi Việt
Ngữ từ 1924-1925; làm cho văn xuôi Miền Nam hóa thanh
nhă, “có văn”, như văn xuôi Miền Bắc. (So sánh
văn anh ấy viết từ 1925 với văn các cây bút
đương thời, như Nguyễn Chánh Sắc... th́
thấy một trời một vực)” (sđd)
* * *
Mục đích thứ nh́ là nối lại sự
nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đă bị
gián đoạn trong một thế kĩ rưỡi.
Một thanh niên sanh trong một gia đ́nh có truyền
thống văn học, tại một nơi danh thắng
đă có một thời nổi tiếng là “văn hiến
quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đă
được thấy làn nước Đông Hồ,
ngọn núi Tô châu, chân được dạo những
chốn c̣n lưu lại di tích tiền nhân như Kim
Dự, B́nh San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe
những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích
cùng những văn thơ Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các,
một thanh niên được gặp những hoàn cảnh
may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười
bốn, mười lăm tuổi đă được
khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi hai tuổi
danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có
giọng lăng mạn như Từ Trẩm Ái (bài Linh
Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mĩ như
văn Lục Triều (bài Phú Đông hồ); một
thanh niên như vậy nhất định là yêu quê
hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài băo
cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối
nghiệp được tiền nhân th́ ít nhất cũng
làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi
hải ngoại (*) xa xôi này không phải không có văn
chương” (lời Đông Hồ).
Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự,
chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc
động mạnh, viết thư cho tôi, ông đă thú
rằng “làm con, tôi đă để cho bác tôi nỗi khổ
tâm v́ tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Vậy ông đă
tự tin lắm, nhận được giá trị của
ḿnh ngay từ thiếu thời và điều tôi đoán rằng
ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về
văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó
chắc không xa sự thực.
Thời đại ông không phải thời đại
Mạc Thiên Tích, Hà tiên không c̣n là một tiểu quốc mà
chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa
vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp
thuộc lại càng không thể so sánh được
với địa vị một vị hầu dưới
triều chúa Nguyễn (Thiên Tích được phong là Tông
Đức hầu), cho nên sự nghiệp của ông khác
hẳn của Thiên Tích.
Không thể lập được một Chiêu Anh các th́ ông
rán dựng Trí Đức học xá, cũng là một
nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các;
chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong
nước để thành lập một tao đàn th́ ông
đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi
Việt ngữ, hiểu được thơ văn,
nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuyết
trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên
dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan
khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn
chương ở Hà tiên, Biên ḥa, Tây ninh… nghe tiếng
gọi là “hồn Đại Việt” của ông mà cùng
với ông trau giồi “giọng Hàn Thuyên”.
Không có Đại thành điện, Khuê văn lâu… như Tông
Đức hầu, th́ ông có Vạn quyển thư lâu,
Vương giả hương đ́nh, Qúnh Lâm thư
thất… tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh
quí và nét bút của cổ nhân và của chính ông th́ chất,
treo đầy tường; mà hương trầm,
hương mai, hương lan, hương huệ thường
tỏa ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai
cũng phải nhận rằng về phương diện
đó ông là bậc “vương giả” trong giới tao nhân
Việt nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư kí Hàn lâm viện
Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Sàig̣n để t́m
những kỉ niệm về thi hào Tagore th́ nha Văn hóa
bối rối, không biết tiếp vị khách ấy
ở đâu cho trang nhă, có vẻ “văn hóa” một chút,
phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.
Những hoạt động cùng phong cách đó của
họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với
những hoạt động cùng phong cách họ Mạc,
nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức,
nhưng dù vậy đi nữa, tôi nghĩ cũng cần
ghi lại cho văn học sử.
Tôi không rơ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức
học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau
được bao nhiêu người; một số có
khiếu văn chương , nhưng rồi chẳng
viết lách ǵ cả, và rốt cuộc chỉ c̣n một
ḿnh nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và
bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao
của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ
đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du
dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và khi
miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con
ong, một cành hoa… nhận xét có phần sắc bén hơn
ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận
thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của
ông rất đậm; mà văn thơ của hai ông bà có
một địa vị riêng biệt ở Nam, có thể
nói là thuộc về một phái riêng, phái Hà Tiên.
Phái này chỉ c̣n vài ba nhà nữa (như Trúc Hà, có họ hàng
với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có
tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng
Toàn), nhưng sự nghiệp không kém ǵ phái Chiêu Anh các.
Không kể rất nhiều bài đăng rải rác trên các
tạp chí, hiện nay chưa in thành sách (**), Đông Hồ
đă lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm,
trong số đó có sáu bảy tập thơ.
Nữ sĩ Mông Tuyết cũng đăng lác đác ít bài
thơ, hồi kí, đă xuất bản được
một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái cơ trong
chậu úp, một tập tùy bút Dưới mái
trăng non và có một tập văn cảo: Hà tiên
tạp thuyết. Bà vẫn c̣n sáng tác và chắc c̣n
cống hiến cho quốc dân vài tập nữa.
Đă có người nhận định về phần mà
người ta gọi là “văn chương thuấn túy”,
tức thơ, tùy bút… trong sự nghiệp của Đông
Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những
trứ tác của hai ông bà liên quan đến Hà tiên,
để đọc giả thấy rơ hai ông bà đă
đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rún
được những ǵ. Phần đó là phần hai ông
bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan
trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai
để ư tới.
Ở trên tôi đă dẫn một đoạn Đông Hồ
tả Hà tiên, và độc giả đă thấy ḷng yêu quê
hương của ông ra sao, ông cho Hà tiên gồm đủ
các thắng cảnh trong nước, không khác ǵ một
Việt nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà
để thưởng ngoạn.
Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông
Hồ đă giới thiệu quê hương với
độc giả Nam Phong:
- Năm 1926 ông viết thiên Hà tiên Mạc thị sử
(Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần
Đ́nh Quang hồi đầu thế kĩ.
Ba năm sau ông can đảm nhận rằng v́ “sở
học c̣n kém mà không t́m được bản chánh Gia
phả họ Mạc”, nên thiên đó “c̣n khiếm
khuyết”, sai suyển rất nhiều, không thể
để lầm cho người sau được”, ông
viết lại. Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng
lại.
Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc thị gia phả
của Vũ thế Dinh, tự Thân Di, viết năm 1818.
Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài
liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có
nhiều chỗ cần phải xét lại, chia ra
chương tiết, sau khi “tham khảo thêm các sách Nam
sử và ngoại truyện”, tăng bổ thêm những
chổ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm.
Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh
nhân nước nhà của Đào Văn Hội.
Sau khi lên Sàig̣n rồi, ông kiếm thêm được
nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt,
như bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên, Un
Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà tiên, Journal asiatique 1952
của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kĩ
lưỡng cuốn Mạc thị gia phả kể
trên, của Trần Kinh Ḥa, Văn hóa Á châu số 7 tháng 10
năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa
tập Hà tiên Mạc thị sử, nhưng chưa
kịp làm th́ đă qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và
thận trong. Mặc dù chưa sửa lại, tập đó
đến nay vẫn tạm dùng được.
- Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú quốc,
ông được thăm gần hết cảnh
đẹp và di tích trên đảo, về viết một
thiên du kí rất đầy đủ, đăng trong Nam
Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm đảo
Phú quốc. Ông nhận xét, ghi chép rất tỉ mỉ,
mà văn du kí của ông tươi đẹp, nên ngày nay
đọc lại c̣n thấy thú.
- Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam
Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà tiên như Bơi
thuyền chơi Đông hồ, Đông hồ cảnh
sớm, Lên chơi núi Đại Tô châu, Chơi Tô châu,
Cảnh trăng trên Đông Hồ…, đáng để ư
hơn cả là:
Bài kí Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi
Châu nham tức núi Đá dựng cách chợ Hà tiên sáu,
bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn
Thạch Động.
Và bài phú Đông Hồ rất nỗi tiếng (N.P
số 145 năm 1929 – sau sửa lại vài chỗ,
đăng lại trong số 158 năm 1931).
- Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập
nhan đề là Hà tiên thập cảnh và đường
vào Hà tiên (Bốn phương – 1960). Tập này mơng,
nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả
biết rơ ràng về mười thắng cảnh Hà tiên.
Về mỗi cảnh Đông Hồ dẫn một bài
thơ Nôm, thất ngôn Đường luật của
Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh,
kể tích xưa cho ta hiểu rơ thêm. Cuối tập có
mươi trang tả bốn năm con đường
đưa vào Hà tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.
Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn
tiếp tục khảo cứu thêm về Hà tiên, thu thập
tất cả sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà tiên
được trên mười tập… Tôi đă thấy ông
ghi chú kĩ lưỡng từng tài liệu một, gom
lại thành một bó lớn, một phần
được dùng trong cuốn Văn học Hà tiên
(Qúnh Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ
lớn, có nhiều h́nh ảnh, gồm những bài giảng
của ông ở Đại học Văn khoa Sàig̣n. Tôi
nhận thấy công tŕnh khảo cứu công phu, cách tŕnh bày
sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo
sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng
trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch
thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà
giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác,
như bài Lộc trĩ thôn cư nguyên tác là thất ngôn
Đường luật và dùng những vần tinh, thinh,
thanh, linh, đ́nh th́ ông dịch ra thất ngôn
Đượng luật và dùng những vần ḿnh, tranh,
xanh, thanh, thinh.
Ông đă tŕnh bày cặn kẻ chẳng riêng mười bài
thơ nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài
thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh
Hà tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các,
tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi
dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.
Đó là công của Đông Hồ với Hà tiên. Sự
đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất
đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập
truyện Nàng Ái cơ trong chậu úp (Bốn
phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi kí về Hà
tiên trong tập Dưới mái trăng non (Mặc Lâm
-1969) nhưng nội cuốn Nàng Ái cơ cũng đáng
được chú ư rồi.
Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông
Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử Hà tiên,
đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà tiên,
Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà
tiên, sống với các nhân vật Hà tiên.
Truyện có thực, c̣n lưu lại di tích, tức chùa Phù
Dung ở Hà tiên mà Đại nam nhất thống chí
chép đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu
nghĩa đổi thành Phù Dung.
Nhân vật chính, D́ Tự, một ái cơ của Mạc
Thiên Tích, đă đẹp lại hay chữ, khiến bà
chính thất họ Nguyễn ghen tương mà lập
mưu hăm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho
ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên
cứu sống, rồi chán chường thế sự bà
xin phép chồng đi tu, Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù
Cừ đó để bà lánh đời (***).
Truyện chỉ có vậy, tác giả đă tưởng
tượng thêm để viết thành một lịch
sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống
lại một thịnh thời ở Hà tiên với
những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh
duyệt binh, cảnh tết Đoan ngọ… Tuy là
tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử,
theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên
đại trong sử. Tác giả đă khảo cứu công
phu, dựng truyện chặt chẽ, mà văn th́
đẽo gọt, đối với một tiểu
thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm
hiện thời. Từ đầu thế kĩ đến
nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh
được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là
truyện t́nh mang tên “lịch sử” c̣n tiểu thuyết
của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con
yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử kí sự mượn
cái tên “tiểu thuyết”. Đúng tên lịch sử kí
sự tiểu thuyết chỉ có Nàng Ái cơ trong chậu
úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người
hoan nghênh có lẽ chỉ v́ xuất hiện không đúng lúc.
Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông
Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc
đề tựa và tŕnh bày (có mấy bức tranh của
ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng
cốt truyện nữa.
Vậy ông đă trả ơn quê hương một cách
xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được
chút ǵ về Hà tiên hầu hết là nhờ ông cả.
Thật cũng lạ! Họ Mạc và họ Lâm
đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quảng
đông, Lâm ở Phúc kiến, cùng qua Nam Việt một
thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của ḿnh,
rồi coi quê hương đó là quê hương thứ
nhất, cũng tận tâm phục vụ cho tiếng
mẹ đẻ; họ Mạc đến đời
thứ bảy chỉ có hai đứa con gái, c̣n họ Lâm
đến đời thứ tám cũng chỉ có hai
người con gái (Đông Hồ là con trai duy nhất
đời thứ bảy, sanh hai con trai đều không nuôi
được).
Hiện nay ngoài Mộng Tuyết ra (****), c̣n có nhà văn, nhà
thơ nào gốc gác ở Hà tiên nữa không? Và Hà tiên bao
giờ mới lại có được một họ làm
rạng danh Hà tiên như họ Lâm? Nếu có th́ thời
đại đă thay đổi, Hà tiên sẽ không c̣n là
nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đă
thống nhất th́ sự nghiệp của người sau
tất khác của người trước. Và chúng ta có
thể nói rằng lịch sử văn học Hà tiên
sẽ vĩnh viễn gắn liền với với hai
họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà tiên thành “văn
hiến quốc”, họ Mạc mở đường,
họ Lâm nối nghiệp: người sau sẽ chuyển
qua một hướng khác chứ không tiếp tục
nữa.
Sàig̣n 1-3-1971
--------------------------
Ghi chú của Goldfish:
(*) Trong bài Tao Đàn Chiêu Anh Các Hà Tiên (Tạp chí Chiêu
Anh Các số 62), N.T.D.M giảng từ hải ngoại trong
câu “Không thể bảo rằng hải ngoại không có
văn chương vậy” của Lê Quư Đôn như sau:
“(…) người Đàng Ngoài muốn vào đến (Hà tiên)
th́ phải đi ṿng đường biển, nên gọi là
“hải ngoại”.
(**) Trong thư gửi cho Quách Tấn ngày 14/02/1984, cụ NHL
viết: “(…) anh ấy (Đông Hồ) mới nằm
xuống, vợ con lo xuất bản tất cả
những bản thảo c̣n lại của anh ấy!” (Trích Hồi
Kư Quách Tấn)
(***) Trong bài Chùa Phù Dung – Hà Tiên đăng trên website
Diễn đàn trường Đại học Cần
Thơ, tác giả tndung cho rằng: “Chùa Phù Dung do Mạc
Thiên Tích con của Mạc Cửu xây ngay chân núi B́nh San, để
cho bà vợ thứ tu hành. Trước đó chùa có tên là am
Phù Cừ. Phù Cừ và Phù Dung là tên hai giống Sen, một
trắng, một hồng”. Trong bài Di tích (không rơ tác
giả, www.vietshare.com/quehuong/kiengiang) ghi: “Chùa
Phù Dung: C̣n gọi là Phù Cừ Am Tự, do tổng trấn
Hà Tiên Mạc Thiên Tích (Mạc Thiên Tứ) dựng vào
khoảng thế kỷ 18 tại chân B́nh Sơn, thị xă
Hà Tiên cho nàng Ái Cơ Phù Cừ (Nguyễn Thị Xuân),
vợ thứ hai của ông”.
(****) Bà mất ngày 1-7-2007, thọ 93 tuổi. Ngoài các tác
phẩm được cụ NHL nêu ra ở trên bà c̣n có
cuốn hồi kư Núi Mộng Gương Hồ
gồm ba tập, NXB Trẻ, 1988.
Nguyễn
Hiến Lê. Mười Câu
Chuyện Văn Chương. Westminster CA : Văn Nghệ, 1986.
Nguồn :
http://thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=10231